BẠCH DƯƠNG KỲ - Bạch Dương Tu SĩBạch Dương Kỳ 2002

BÀI GIẢNG TỪ HUẤN CỦA BỒ TÁT THÍ VÔ ÚY

Tác giả liangfulai on 2026-04-03 22:29:18
/BÀI GIẢNG TỪ HUẤN CỦA BỒ TÁT THÍ VÔ ÚY

BÀI GIẢNG TỪ HUẤN CỦA BỒ TÁT THÍ VÔ ÚY


I. Lời mở đầu

(1) Người sùng đức được gieo mình trong thiên ân, có chư Phật Bồ Tát trợ hóa, được Bạch Thủy Thánh Đế gia hộ, và sự từ bi nâng đỡ, tác thành của Bất Hưu Tức Bồ Tát. Nhờ vào thể chế hoàn bị, vận hành hiệu quả và sự dẫn dắt tích cực của đạo trường Sùng Đức, mà mọi người đều có việc để làm, mọi việc đều có người lo. Từ thân phận phàm phu, chúng ta được học đạo lý của thánh hiền, học cách hành xử của thánh hiền, lập nguyện theo thánh hiền và dấn thân vào sự nghiệp của thánh hiền. Với tâm vô vi, làm những việc hữu vi, thực hiện "tam thí song hành" (tài thí, pháp thí, vô úy thí), tích lũy đức hạnh thánh hiền. Trong quá trình tu bàn đạo, dùng tâm hạnh của Bồ Tát Thí Vô Úy mà thành tựu công đức.

 

(2) Giáo Hóa Bồ Tát khuyên nhủ rằng: "Học thánh hiền cẩn trọng tuân theo Phật quy, học Bồ Tát hỷ xả vô vi; tâm Bồ Đề viên mãn phúc huệ, kiên cố nguyện lực từ bi vô lượng." Ngài chỉ rõ người tu đạo phải lấy việc học tập chí hướng của Thánh hiền, Phật, Bồ Tát làm mục tiêu, ôm giữ đạo và thực hành cho đến cuối đời. Luôn niệm tưởng đến chúng sinh trong mọi thời khắc (nhị lục thời trung), chánh kỷ thành nhân (tu sửa mình để giúp người), viên mãn tâm tánh. Đồng thời, lấy tâm nguyện thành tựu và giúp chúng sinh viên mãn làm nguyện lực, dùng tinh thần Thí Vô Úy để hỗ trợ việc thu viên, cứu độ chúng sinh.

 

(3) Bài huấn từ "Bồ Tát Thí Vô Úy" này do Bất Hưu Tức Bồ Tát ban tại lớp Đàn Chủ ở Sarawak (Malaysia). Ngài khuyến khích mọi người dùng nguyện lực to lớn để gánh vác kiếp nạn cứu đời, giúp đỡ chúng sinh, nhổ tận gốc khổ đau và ban tặng niềm vui, giải thoát khỏi sinh tử. Từ trong tinh thần "Thí Vô Úy", hãy quán chiếu tâm mình, xem xét hành vi của bản thân, loại bỏ nỗi sợ hãi của chúng sinh và dẫn dắt họ đi đúng hướng.

... Những hành vi sai lệch của chúng sinh thực sự có thể gọi là tấm gương quý báu cho người tu hành. Vì vậy, chúng ta nên tri ân sự dạy dỗ từ bi ân cần của các vị Bồ Tát, nên cổ vũ bản thân, noi gương tâm hạnh của Bồ Tát Thí Vô Úy, chân thành dấn thân tu tập và làm việc đạo, để trở thành một "Bồ Tát Thí Vô Úy" thực thụ, không để bản thân phải hối hận hay cắn rứt trong quá trình tu hành.

 

II. Nhận thức và lý niệm mà người thực hành Thí Vô Úy nên có

(1) Dùng niềm tin để loại bỏ nỗi sợ hãi và lo âu của chúng sinh : Cổ Phật dạy rằng: "Niềm tin tạo ra thực tại", đó cũng chính là ý niệm tin rằng mình sẽ thành công. Một niềm tin đúng đắn đến từ chánh tri (biết đúng), chánh kiến (thấy đúng) và chánh tâm (tâm ngay thẳng).

Thầy cũng nói: "Thấu hiểu trí tuệ của thánh hiền mới có thể nuôi dưỡng ánh sáng đức hạnh của tự tánh". Ví dụ, làm công đức có thể tiêu trừ nghiệp chướng, nhưng đừng vừa làm vừa tạo ác nghiệp, khiến công đức bị thất thoát, cuối cùng có thể trở thành "mắc nợ" mà không còn công đức để tiêu nghiệp. Do đó, cần nghiên cứu kỹ kinh điển và lời huấn dạy của tiền nhân thì mới có thể uốn nắn niềm tin cho đúng đắn.

 

(2) Dùng chân lý để giảm bớt phiền não và sự chấp trước của chúng sinh : Việc thành toàn cho các đạo thân không nằm ngoài ba chữ "Tình, Lý, Pháp": dùng tình cảm để dẫn dắt, dùng lý lẽ để hướng dẫn, và dùng phép tắc để ước thúc.

Lý lẽ muốn minh bạch thì nhất định phải thông qua việc học, không học thì lý không thông. Lý không thông thì phiền não và chấp trước khó lòng dứt bỏ. Ý nghĩa thực sự của việc học nằm ở sự thực hành. Thầy dạy rằng: "Học rộng, chí vững, hỏi kỹ, nghĩ gần, và thân hành thực tiễn mới là cái học chân chính". Có cái học chân chính mới có sự tu hành chân chính, và người tu hành chân chính ắt sẽ hiểu rõ đạo lý để phá bỏ tướng thế gian. Vì vậy, để độ hóa chúng sinh, nhất định phải hiểu rõ đạo lý và thực tu, lấy chân lý làm nơi nương tựa mới có thể đạt đến sự rốt ráo.

 

(3) Tuyên dương Phật pháp, tháo gỡ tâm sân hận và tham lam của chúng sinh

Phật pháp là chân lý của vũ trụ, và Phật pháp vốn ở trong tâm. Vì vậy, muốn tháo gỡ lòng sân hận, tham lam của chúng sinh, cần dùng chân lý Phật pháp để khai sáng cho họ, khuyên răn phát tâm Bồ-đề, giáo hóa nhân tâm.

Do đó, người thực hành hạnh nguyện "thí vô úy" (ban tặng sự không sợ hãi) cần phải thâm nhập kinh điển, tu hành thực tiễn, có như vậy mới hòa hợp được với bản tâm, thấy được bản tánh, để trí tuệ nhiệm màu hiển hiện. Như thế mới có thể thay Phật truyền lời, thay Trời giáo hóa.

 

(4) Thực thi lòng từ bi, hóa giải vọng tưởng và nỗi sợ hãi của chúng sinh

Từ bi chính là nguyện hạnh của chư Phật và Bồ-tát, cũng là khởi đầu của "Tứ vô lượng tâm" (Từ, Bi, Hỷ, Xả), là sức mạnh không sợ hãi để cứu độ chúng sinh.

Đại tiên Lý Thiết Quải từng nói về lòng từ bi: "Chỉ có hiến dâng không điều kiện mới gọi là Từ; chỉ có hy sinh không có cái tôi mới gọi là Bi." Đó cũng chính là sự thức tỉnh tinh thần của lòng "Vô duyên đại từ, Đồng thể đại bi" (Lòng từ rộng lớn với người không quen biết, lòng bi thương xót vì coi chúng sinh như chính thân mình).

Đức Phật lấy "Tứ hoằng thệ nguyện" làm nguyện hạnh độ hóa chúng sinh, dùng đặc tính của "Bi và Trí" làm kim chỉ nam cho họ. Vì vậy, người tu hành muốn thành Phật đạo, cần phải thực thi lòng từ bi, hóa giải những vọng tưởng và nỗi sợ hãi của chúng sinh.

 


(5) Hành đạo chính, chỉ dẫn những nghi hoặc và mê lầm của chúng sinh

Chúng sinh sở dĩ trôi lăn trong sinh tử, vĩnh viễn mất đi đạo chân thật, là do tâm vọng tưởng gây ra. Vì vậy, cần phải trừ bỏ cái giả để hiển lộ cái thật. Nếu lòng người (ham muốn) không dứt thì tâm đạo khó hiển hiện.

Muốn hành đạo chính, nhất định phải gạt bỏ dục vọng, làm lắng đọng tâm tư, khôi phục bản tâm chân thật. Thầy dạy rằng: "Đời người mê lầm thì bị nghiệp lực làm chủ; đời người giác ngộ thì lấy nguyện lực làm chủ." Bởi vậy, người thực hành "thí vô úy" phải biết tiết chế dục vọng, làm sạch tâm mình, bình thản suy xét, sửa điều ác, làm điều thiện, đó mới là người giác ngộ. Có như vậy mới để bản tâm chân thật và tâm đạo làm chủ, mới có thể đi đúng đường chính, chỉ dẫn cho chúng sinh thoát khỏi những nghi hoặc và u mê.

... Năm điều kể trên đều có thể chân tri chân hành (biết thật làm thật), lúc nào cũng thận trọng khi ở một mình, không oán không hối, dốc hết toàn tâm. Khi công phu hành trì sâu dày và đúng mực, nhất định sẽ có lòng đại bi của Bồ Tát; nghe tiếng kêu cứu khổ nạn mà có thể giải cứu cái khổ cho chúng sinh, đó chính là sự thị hiện của Bồ Tát Thí Vô Úy.

 

III. Người thực hành Vô Úy Thí nên dẫn dắt thế nào đối với những người có tâm tu hành nhưng đang gặp trắc trở?

(1) Ban tặng thức ăn, y phục cho những người vì tu hành mà chịu đói khát, lạnh lẽo.

Đối với những đạo hữu (đạo thân) vì công việc không ổn định, kinh tế eo hẹp, cuộc sống khó khăn, người thực hành Vô Úy Thí nên chủ động quan tâm, giúp đỡ về thực phẩm, quần áo (vật chất hoặc tiền bạc) để giảm bớt khó khăn, giúp họ không thối chí hay bỏ cuộc trên con đường tu tập.

 

(2) Ban tặng chánh tín cho những người vì đi độ hóa người khác mà bị hủy báng, nói xấu.

Hiện tượng này thường xuyên xảy ra. Người thực hành Vô Úy Thí cần khuyên bảo, dẫn dắt tận tình; có thể nêu gương những bậc tiền hiền đã vượt qua khảo nghiệm khi tu hành để khuyến khích, củng cố niềm tin. Giúp họ thiết lập lý niệm tu hành đúng đắn, không sợ hãi gian khổ, tiếp tục độ hóa người có duyên. Chúng sinh tuy khó độ, nhưng nếu ta chân thành giúp họ thành tựu, nhất định sẽ nhận được sự trợ giúp từ Tiên Phật, giúp chúng sinh sớm "lên bờ" (giác ngộ).

 

(3) Ban tặng lòng dũng cảm cho những người vì ăn chay (trì trai) mà gặp phải khảo nghiệm.

  1. Khơi dậy sự thù thắng và tầm quan trọng của việc ăn chay.
  2. Ăn chay chính là vì nguyện lực của Bồ Tát, nhất định sẽ có khảo nghiệm để minh chứng cho tâm chân thành của người đó.
  3. Người thực hành Vô Úy Thí trao tặng niềm tin và sức mạnh; có thể duy trì việc ăn chay trường (trì trai thanh khẩu) là việc không hề dễ dàng, phải có nhân duyên tu hành từ mười kiếp, vì vậy không được dễ dàng thối chí.

 

(4) Đối với người đi khai hoang gặp khốn đốn, ma luyện: Ban tặng sự Nhẫn nhục

Việc đi khai hoang (mở đường đạo) không phải cứ có sự kết nối là đi được. Quá trình đó vô cùng gian nan, vất vả. Do đó, nếu muốn đi khai hoang (nhất là ở hải ngoại), cần phải có sự quy hoạch chu đáo và phối hợp nhân lực, không được hành động hấp tấp, khinh suất. Nếu đã dấn thân khai hoang rồi, hãy dành cho họ sự khẳng định — đó chính là tâm hạnh của Bồ Tát; giúp họ vượt qua muôn vàn khó khăn, kiên trì không lùi bước, đồng thời phải có đủ đức Nhẫn nhục Ba-la-mật để vượt qua mọi thử thách cho đến khi thành công.

 

(5) Đối với người lo việc đạo mà lao lực thành bệnh: Ban tặng sức khỏe

Tu hành và làm việc đạo là sự nghiệp của cả một đời, không nên nôn nóng, vội vàng nhất thời. Cần giữ vững tâm nguyện ban đầu, luôn duy trì tâm chân thành và tích cực tu tập, nhưng phải biết lượng sức mà làm. Bảo vệ tốt sức khỏe của chính mình cũng là một phần của tu hành. Vì vậy, người thực hành Vô Úy Thí nên trao cho họ những tri kiến đúng đắn để thực hiện, giúp cho thân - tâm - linh đều khỏe mạnh thì mới đạt đến sự rốt ráo.

 

Năm điều nêu trên, thông qua việc thực hành Vô Úy Thí mà giác tỉnh nội tâm, tự quán chiếu hành vi của chính mình; bản thân mình có chính trực thì mới có thể giúp người khác chính trực.

Bạch Thủy Thánh Đế từng từ bi khuyến bảo:

"Cần thận trọng và cung kính trong từng giây từng phút; xoay cái nhìn vào bên trong để phản tỉnh ngay lúc này; tức khắc sửa đổi lỗi lầm và nghiêm khắc với bản thân; luôn hướng về điều thiện và giữ gìn đạo nghĩa bền chặt."

Dùng tâm thế này để rèn luyện công phu "thận độc" (cẩn trọng khi ở một mình), nhất định có thể tự lập thì giúp người lập, tự đạt thì giúp người đạt.

 


IV. Người ban tặng và người tiếp nhận đều được hưởng lợi, cùng xây dựng phẩm sen

Như trong bài huấn từ đã dạy: "Khi xóa bỏ nỗi sợ hãi cho chúng sinh, cũng là lúc xóa bỏ nỗi lo âu trong tâm mình; khi uốn nắn hành vi sai lệch của chúng sinh, cũng là lúc chỉnh sửa những sai sót của chính mình." Lại nói: "Bất kể kết quả của sự cống hiến ra sao, hãy cứ học tập, tu dưỡng, giảng đạo và hành đạo một cách không sợ hãi. Ngay khoảnh khắc đó, bạn chính là hiện thân của Bồ Tát Thí Vô Úy."

Ân sư (Thầy) đã chỉ dạy: "Bồ Tát nhờ chúng sinh mà thành tựu, chúng sinh nhờ Bồ Tát mà được cứu độ". Vì vậy, người của Sùng Đức càng nên trân trọng cơ hội tốt đẹp này, dấn thân vào nơi công đường (phật đường), tích cực tham gia hành đạo. Học tập tinh thần và tâm hạnh của Bồ Tát Thí Vô Úy, tham gia công việc tại Phật đường, gia nhập các tổ nhóm đạo vụ.

Càng cho đi nhiều, nhận lại càng nhiều, đó chính là đạo lý "một vốn vạn lời" (ý chỉ sự tích lũy công đức vô lượng). Đây là lời nhắc nhở và khích lệ lớn nhất của Ân sư, khuyên chúng ta phải tích cực, chớ lười biếng, để tự mình xây dựng nên tòa sen cửu phẩm.


V. Kết luận

(1) Trong bài huấn từ có nhắc đến: Người ban tặng sự không sợ hãi (Thí Vô Úy) một khi đã lập nguyện thì phải gánh vác trách nhiệm. Phải biết tự mình hành đạo trước, ngôn hành nhất trí không sai lệch, tâm thành kính không tạp niệm. Dùng chánh niệm, chánh tín, chánh tri kiến để nối nghiệp người đi trước, mở lối cho người đi sau. Dù gánh vác trọng trách trên vai cũng không hề hối tiếc. Do đó, là một người thực hành "Thí Vô Úy", cần giữ đúng bổn phận mà làm, lấy thân mình làm gương để thể hiện đạo, mới có thể lập công, vẹn đức, trở thành một vị Bồ Tát Thí Vô Úy thực thụ.

 

(2) Cảm ân Bất Hưu Tức Bồ Tát đã dùng hình tượng Bồ Tát Thí Vô Úy để khích lệ người Sùng Đức. Hãy dùng niềm tin, chân lý, tuyên dương Phật pháp, dùng lòng đại bi thiết thực của sự từ bi và hành chánh đạo để lắng nghe và giải cứu khổ nạn của chúng sinh. Gánh vác tai kiếp cứu thế, giúp chúng sinh lìa khổ được vui, thoát khỏi sinh tử luân hồi.

 

(3) Người của Sùng Đức quyết chí trở thành Bồ Tát Thí Vô Úy, do đó, mỗi người tự hứa với bản thân rằng: Phải kính trời đất, lễ thần minh; giữ cho đạo và hành vi luôn song hành, đức hạnh không khiếm khuyết; bảo hộ thiên mệnh, hoằng dương đại đạo; làm sáng tỏ đức sáng, làm con người mới; cần mẫn học đạo, chí hướng tu hành; trợ giúp việc thu viên, cảm hóa chúng sinh, để đại đạo được truyền khắp vạn quốc cửu châu (khắp muôn nơi trên thế giới).

 

Huấn Từ Của Bồ Tát Thí Vô Úy

Người ban tặng sự không sợ hãi:

  • Dùng niềm tin, xóa bỏ nỗi sợ hãi và lo âu của chúng sinh;
  • Dùng chân lý, giảm bớt phiền não và chấp trước của chúng sinh;
  • Tuyên dương Phật pháp, hóa giải lòng sân hận và tham lam của chúng sinh;
  • Ban trải lòng từ bi, làm tan biến những vọng tưởng và kinh hoàng của chúng sinh;
  • Hành theo chánh đạo, chỉ dẫn những mê lầm và nghi hoặc của chúng sinh.

Như tâm đại bi của Bồ Tát, có thể lắng nghe tiếng kêu cứu mà đến cứu độ (Tầm thanh cứu khổ).

  • Với người vì tu hành mà chịu đói khát, lạnh lẽo: Ban cho cơm ăn, áo mặc.
  • Với người vì độ người mà bị hủy báng, nói xấu: Ban cho chánh tín.
  • Với người vì trì giới (ăn chay) mà gặp thử thách: Ban cho dũng khí.
  • Với người vì khai hoang (mở đường đạo) mà khốn khó, rèn luyện: Ban cho sự nhẫn nhục.
  • Với người vì làm việc đạo mà tích tụ mệt mỏi thành bệnh: Ban cho sức khỏe.

 

Bài học về sự tự soi xét:

Từ trong việc "ban tặng sự không sợ hãi", hãy tự quan sát tâm mình, soi rọi hành vi của chính mình:

  • Khi xóa bỏ nỗi sợ hãi cho chúng sinh, cũng là lúc xóa bỏ nỗi lo âu trong tâm mình.
  • Khi uốn nắn hành vi sai lệch của chúng sinh, cũng là lúc chỉnh sửa những sai sót của chính mình.

"Người biết nhẫn nhịn sẽ có được sự không sợ hãi, người có lòng nhân từ sẽ trở nên vô địch."

 

Lời kết:

Dùng đại nguyện lực để gánh vác tai kiếp cứu thế, giúp đỡ chúng sinh; diệt trừ khổ đau, ban tặng niềm vui, thoát khỏi sinh tử, cùng nhau tu tập tâm pháp tối thượng.

Bất kể kết quả của sự cống hiến ra sao, hãy cứ học tập, tu dưỡng, giảng đạo và hành đạo một cách không sợ hãi. Ngay khoảnh khắc đó, bạn chính là hiện thân của "Bồ Tát Thí Vô Úy".

 

Nam Bình Đạo Tế Từ Bi

Một chữ "Cần", thiên hạ không việc gì khó

Người biết chuyên cần:

  • Cần mẫn tu dưỡng bản thân, tất sẽ khiến bản thân sánh ngang cùng bậc Thánh Hiền;
  • Cần mẫn học tập, tất sẽ khiến kiến thức uyên bác (học phú ngũ xa);
  • Cần mẫn tự soi xét (tỉnh sát), tất sẽ khiến hành vi đoan chính, đức hạnh ngay thẳng;
  • Cần mẫn bồi đắp công đức, tất sẽ khiến đức tính được tròn đầy.

Vì vậy, người tu thân, suốt đời tu trì để được đồng hành cùng Thánh Hiền, ắt cũng có thể đồng hành cùng chúng sinh.

  • Cần mẫn trên lộ trình tu đạo và hành đạo, tất có thể khai hoang mở lối, nghe được chân đạo;
  • Tất có thể dùng đức độ thấm nhuần thiên hạ, cảm hóa được muôn dân.

Chuyên cần ắt có công lao: Công lao ấy đóng góp cho đất trời, công lao ấy thể hiện ở cả bên trong (tâm tính) lẫn bên ngoài (hành vi), đều đạt đến sự tề chỉnh, vẹn toàn.

  • Cần mẫn độ đời, tất có thể thức tỉnh chúng sinh (cửu lục nguyên nhân);
  • Cần mẫn tu thân, cần mẫn lập nghiệp;
  • Cần mẫn làm việc đạo, cần mẫn độ hóa chúng sinh.

Làm được như vậy, định sẵn sẽ trở thành tấm gương mẫu mực cho thiên hạ soi vào.

 

 

Số lượt xem : 11